Showing posts with label GoodReads. Show all posts
Showing posts with label GoodReads. Show all posts

April 9, 2019

Reading: Cách tìm kiếm đam mê trong công việc



Trong tình yêu, có hai cách để tìm ra "người ấy" (The One). Một là bạn cứ tích cực tìm kiếm, hẹn hò, tìm hiểu nhiều người, cho đến khi tìm được người thích hợp, dành cho riêng bạn. Hai là bạn chấp nhận mối quan hệ hiện tại, thay đổi bản thân để dung hoà được sự khác biệt của cả hai, tìm kiếm ý nghĩa của mối quan hệ trong các hoạt động khác.

Thì cũng vậy, trong công việc, chúng ta có hai cách để tìm được công việc "dành cho bạn". Một là thử nhiều công việc khác nhau cho đến khi tìm được công việc phù hợp. Hai là thay đổi lăng kính góc nhìn về công việc hiện tại của bạn, phương pháp được Giáo sư Amy Wrzesniewski tại Đại học Yale gọi là "Job Crafting"

Trong một loạt thí nghiệm về những người quét dọn tại các bệnh viện, Giáo sư Wrzesniewski đã nhận ra sự khác biệt về cách nhìn nhận công việc sẽ dẫn đến sự khác nhau trong mức độ hài lòng với công việc.

August 18, 2018

Reading: Vì sao càng lớn càng khó kết bạn?



Tình bạn được tạo nên từ 3 yếu tố: 1)Khoảng cách, 2) Thời gian cùng tham gia các hoạt động, và 3) Mối quan hệ cho phép chúng ta bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ chân thật nhất của bản thân. Khi càng lớn tuổi thì ba yếu tố này càng mất đi.

August 11, 2018

Reading: Vì sao nhiều người cảm thấy bất hạnh trong hôn nhân?



Với những người trẻ, việc kết hôn mang ý nghĩa về một bước chuyển mình nâng cấp cuộc sống. Bạn trông đợi về người bạn đời phù hợp và mối quan hệ hôn nhân góp phần vào việc phát triển bản thân. Thật hào hứng phải không? Cẩn thận đấy, nhà nghiên cứu Eli Finkel tại Đại học Northwestern đã cảnh báo về các mối quan hệ này như một sự "nghẹt thở hôn nhân".

Như đã đề cập trong bài viết "Vì sao chúng ta khó tìm bạn ở tuổi 30", khi càng lớn, chúng ta càng khó kết bạn. Khi lập gia đình, chúng ta vô tình xem bạn đời như người thay thế tất cả mối quan hệ xã hội và kỳ vọng người bạn đời sẽ có khả năng đáp ứng tất cả nhu cầu tình cảm của bản thân.

Ví dụ trước đây bạn hay tám với hội bạn gái thân về lão sếp xấu tính trong công ty, thì bây giờ bạn sẽ trông đợi lão chồng của mình gật gù đồng ý trả lời "Ừ cái lão đấy quá tồi tệ!" và hưởng ứng theo những lời càu nhàu của bạn. Nhưng thật đáng tiếc là đàn ông họ không phản ứng như thế với những lời phàn nàn của phụ nữ. Họ chỉ ậm ừ cho qua chuyện, và rồi bạn sẽ hét toáng lên "Sao anh không quan tâm đến tâm trạng của tôi gì cả?!!"

Đó chính là hiện tượng "nghẹt thở" trong mối hôn nhân mà Finkel miêu tả. Trong xã hội hiện đại, chúng ta trông đợi bạn đời đáp ứng tất cả nhu cầu tình cảm, cũng như việc kỳ vọng mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta hiểu được bản thân để có thể trở thành phiên bản hoàn hảo nhất của chính mình.

May 24, 2017

[Reading] Lịch sử phát triển khoa học và giáo dục đại học tại Việt Nam

Khoa học tại Việt Nam là thành quả của một quá trình lịch sử kéo dài hơn 1400 năm. Qua nhiều thời kỳ thăng trầm, vai trò của giáo dục cũng thay đổi không ngừng, từ công cụ để duy trì chế độ cai trị, trở thành xương sống cho nền cách mạng, phương thức cho phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá. Bài viết dưới đây sẽ tóm tắt sự thay đổi của giáo dục và khoa học gắn liền sự thay đổi văn hoá, chính trị, và triển vọng tương lai theo chiều dài xuyên suốt lịch sử. 

Mục lục
1. Thời phong kiến 
2. Giai đoạn chống Pháp (truớc 1945)
3. Giai đoạn 1945 - 1975
4. Giai đoạn sau 1975

December 8, 2013

Tìm hiểu về chủng tộc Ainu tại Hokkaido, Nhật Bản

Ainu là chủng tộc sống tại Hokkaido, quần đảo cực bắc Nhật Bản (Nhật Bản gồm bốn đảo lớn Kyushu, Shikoku, Honshu, Hokkaido và các đảo nhỏ khác). Chủng tộc Ainu cổ có ngoại hình đặc trưng: nam giới có râu bia và râu mép; cả nam và nữ đều để tóc dài hơn vai. Nữ giới bắt đầu xăm miệng từ 10-12 tuổi, và khi giai đoạn này hoàn tất vào 14-15 tuổi, cô gái sẽ được xem là người phụ nữ trưởng thành, có thể kết hôn.


July 6, 2013

Nhật Bản giáo dục đạo đức cho học sinh như thế nào?


Kokoro no Noto, sách tham khảo cho bộ môn Đạo đức do MEXT phát hành


Nhật Bản từ lâu đã được biết đến như một đất nước an toàn và hiện đại. Sau trận sóng thần tháng 3/2011, báo chí phương Tây đặc biệt ca ngợi cách ứng xử của người Nhật: dù trải qua thảm họa, nhiều người rơi vào tình cảnh mất nhà, mất người thân, thiếu đồ ăn thức uống, nhưng tình trạng hôi của, cướp giật, hỗn loạn không diễn ra như tại nhiều đất nước khác. Ngoài gia đình, nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo các thế hệ công dân có cách hành xử đúng mực, văn minh. Liệu nền giáo dục Nhật Bản có bí quyết gì? Bài viết sẽ cung cấp những thông tin về cách giáo dục đạo đức (道徳 | Doutoku) trong nhà trường tại Nhật Bản.

Lịch sử


Theo Bách khoa Toàn thư Triết học Stanford, “đạo đức” là “các quy tắc hành xử được một xã hội thống nhất và chấp nhận, và đóng vai trò hướng dẫn hành vi cho tất cả thành viên trong xã hội đó”. Giáo dục đạo đức tại Nhật có lịch sử lâu đời, có thể bắt nguồn từ thời Tokugawa (1603-1868). Trong giai đoạn này, trẻ em học Đạo Khổng tại các trường Terakoya (dành cho con cháu tầng lớp samurai) và Hankou (dành cho các trẻ còn lại). Giáo dục đạo đức được kéo dài tại Nhật, và giai đoạn Hiện đại bắt đầu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (WW II). Tháng 3 năm 1947, “Luật căn bản” (Fundamental of Law) tại Nhật quy định giáo dục đạo đức là một phần bắt buộc trong xã hội dân chủ.

Các lớp học về đạo đức tại Nhật chính thức bắt đầu từ tiểu học, thế nhưng ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã được học các quy tắc ứng xử căn bản. Người Nhật đặc biệt chú trọng các câu chào hỏi, xin lỗi, và cám ơn. Mỗi buổi sáng, trẻ xếp hàng trong lớp, trịnh trọng chào giáo viên trước khi bắt đầu ngày mới. Trong quá trình học và chơi, trẻ được hướng dẫn và nhắc nhở sử dụng các câu cám ơn và xin lỗi trong các tình huống phù hợp.

Đến giờ ăn, trẻ được phân công phục vụ đồ ăn cho các bạn: giáo viên sẽ múc thức ăn vào bát, đổ sữa vào ly; và trẻ sẽ bưng đến bàn của các bạn. Trẻ mặc đồng phục như một người chăm nuôi thật sự. Sau đó, những trẻ phục vụ của ngày sẽ tập trung đứng trước lớp và đồng thanh chúc các bạn ăn ngon miệng, và các bạn sẽ đồng thanh cám ơn. Trước khi ăn, người Nhật nói “Itadakimasu” (Tôi biết ơn vì được nhận đồ ăn), sau khi ăn sẽ nói ”Gochisosamadeshita” (Cám ơn vì bữa ăn), và hai điều này cũng được hướng dẫn ngay từ mẫu giáo.

Trẻ em từ 3 tuổi trở lên được hướng dẫn tự ăn mà không cần người lớn bới, tự đem khay sau khi ăn đến nơi dọn dẹp, tự mặc quần áo, tự trải ga trải giường, tự gấp gối và nệm sau giấc ngủ trưa. Có thể nói, ngay từ cấp mẫu giáo, trẻ đã được học những bài học quan trọng đầu tiên về cách ứng xử lịch thiệp (lời cám ơn và xin lỗi), tinh thần trách nhiệm với công việc (mặc đồng phục), chia sẽ trách nhiệm trong tập thể (lần lượt đảm nhiệm việc phục vụ đồ ăn), và sự tự lập (tự phục vụ bản thân).

December 4, 2011

Việt Nam xuất khẩu gạo nhiều thứ nhì thế giới thì có gì mà tự hào?


Tất cả những ai từng ngồi trên ghế nhà trường tại Việt Nam có lẽ không xa lạ với số liệu Việt Nam là nước xuất khẩu gạo nhiều thứ hai thế giới. Con số này được khắc sâu đậm trong tâm thức mỗi người. Nó gần như niềm tự hào về quê hương “giàu tài nguyên”, “rừng vàng biển bạc”, ruộng lúa xanh tốt màu mỡ, cò bay thẳng cánh. Nhưng sự thật thì sao? Cái nhìn của các nước phương Tây thì sao? Đáng tiếc thay, trong mắt các học giả phương Tây, số liệu này phản ánh sự thật đáng buồn về hiện trạng nông nghiệp bị tận thu tại Việt Nam chứ chẳng phải con số đáng tự hào của nền kinh tế phát triển nào cả.

Trong bài viết “Vì sao họ không thể nuôi nỗi mình” (Why can’t people feed themselves?), hai tác giả Lappe và Collins cho rằng chủ nghĩa thực dân (colonialism) là nguyên nhân tạo nên nạn đói tại các nước đang phát triển cho dù sản lượng xuất khẩu các loại nông phẩm của các nước này luôn đứng đầu thế giới. Chủ nghĩa thực dân đã biến đổi toàn bộ hệ thống nông nghiệp tại các nước đang phát triển bằng sức mạnh tài chính và chính trị. Trước chủ nghĩa thực dân, người dân tại các nước nhỏ duy trì được hệ thống nông nghiệp đơn giản, quy mô nhỏ, bao gồm các loại thực phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bản thân và cộng đồng. Tuy nhiên, khi các nước lớn đến “khai thác”, người dân buộc phải chuyển đổi từ phương thức nông nghiệp truyền thống thành hình thức đơn canh (chỉ trồng một loại cây duy nhất), sử dụng hóa chất cũng như phương pháp canh tác không phù hợp với tính chất của đất trồng địa phương. Các loại cây trồng mới này hoàn toàn không phục vụ nhu cầu dinh dưỡng của người dân địa phương mà được các quốc gia phát triển và tập đoàn lớn quyết định dựa vào giá trị trên thị trường nông phẩm quốc tế. Chính vì vậy, người dân tại các nước chưa phát triển thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt duy dưỡng hay thiếu ăn không phải vì họ không có đủ số lượng lương thực mà vì họ không được tiếp cận nguồn dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển sinh lý bình thường.

June 6, 2011

Quan hệ đồng tính và người chuyển giới tại Nhật Bản



Nhật Bản là một trong những quốc gia cởi mở nhất về tình dục trên thế giới. Quan điểm, tập quán, nền công nghiệp tình dục khác giới và đồng giới hiện diện khắp mọi nơi tại Nhật Bản. Sự chấp nhận của xã hội dành cho quan hệ đồng giới và người chuyển giới được phát hiện từ thế kỷ 16 tại Nhật Bản. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, những nỗ lực bình thường hóa quan niệm xã hội dành cho quan hệ đồng giới và người chuyển giới bắt đầu trong thời gian gần đây và thu được những thành quả khiêm tốn. Sự khác nhau giữa hai xã hội bắt đầu từ sự khác nhau trong quan điểm về cơ thể con người. Bài viết dưới đây sẽ so sánh sự khác biệt giữa quan điểm về cơ thể con người và trình bày về sự phổ biến của quan hệ đồng giới và người chuyển giới Nhật Bản thông qua phong tục, sự phát triển ngôn ngữ, văn hóa đại chúng và thời trang.

Ảnh: Ai Haruna, một trong người chuyển giới nổi tiếng nhất tại Nhật, xuất hiện rộng rãi trong nhiều chương trình truyền hình, báo đài

Quan điểm phương Tây cho rằng cơ thể người là biểu hiện của tội lỗi trong khi quan điểm Nhật Bản cho rằng cơ thể người là biểu hiện của nghệ thuật. Nhà xã hội học Shinji Miyada giải thích sự phổ biến của các chương trình biểu diễn cơ thể người (sex show) tại Nhật từ quan điểm trên và đặc tính cộng đồng cao trong xã hội Nhật Bản. Vì nghệ thuật cần được chia sẽ trong cộng đồng, các chương trình biểu diễn, từ những hình thức cao cấp trong các nhà hát hay bình dân trong các quán bar, luôn thu hút một lượng lớn khán giá (1).

Lời giải thích tương tự có thể áp dụng trong trường hợp của “nantaimori”, thưởng thức sushi trên cơ thể nam giới; hoặc “nyotaimori”, thưởng thức sushi trên cơ thể nữ giới. “Nyotaimori” vẫn tồn tại như một hình thức thưởng thức và giải trí ẩm thức hiếm có và độc đáo tại Nhật hoặc những nơi không xem việc khỏa thân là phạm pháp. Sushi vốn là món ăn truyền thống, là biểu tượng và sứ giả văn hóa của Nhật. Sushi sẽ không bao giờ được trình bày trên cơ thể con người nếu xã hội Nhật Bản cho rằng khỏa thân là biểu hiện tiêu cực. Thưởng thức sushi trên cơ thể người là sự trân trọng hai biểu tượng đẹp trong văn hóa Nhật: cơ thể người và sushi; đồng thời là cách tổ chức những buổi họp mặt xã hội. Ngược lại, tại phương Tây, hình thức giải trí ẩm thực này được xem là một hành vi xâm hại cơ thể và phân biệt giới tính đối với phụ nữ (2).

July 31, 2010

Nhật Bản: Geisha khác với Oiran như thế nào?

Phim Sakuran

Geisha là những người trình diễn nghệ thuật cho khách thưởng thức, và đây là nhiệm vụ chính của họ; còn oiran có thể trình diễn - nhưng họ không được đào tạo bài bản và công phu như geisha, và nhiệm vụ chính của họ là quan hệ tình dục. Có thể mường tượng như sau (hoặc xem Sakuran sẽ thấy): trong một căn phòng, Geisha đứng phía trên đàn/hát/múa; Oiran ở dưới ngồi rót rượu và tiếp chuyện cho khách; sau đó Oiran và khách sẽ qua phòng khác để hành lạc.