Showing posts with label Văn học. Show all posts
Showing posts with label Văn học. Show all posts
December 6, 2010
Truyện ngắn Haruki Murakami: Gặp gỡ người phụ nữ hoàn hảo của tôi vào một buổi sáng đẹp trời tháng Tư
Vào một buổi sáng đẹp trời tháng tư, tôi đã gặp người phụ nữ hoàn hảo của mình trên một con đường tại phố Harajuku.
Cô ấy không phải là một người đẹp đặc biệt. Điều làm cô ấy hoàn hảo cũng không phải là trang phục cô ấy mặc trên người. Nhìn từ phía sau, tóc của cô ấy cho biết cô ấy chỉ vừa mới thức dậy. Và cô ấy dường như sắp đến tuổi ba mươi. Mặc dù như vậy, từ năm mươi mét cách xa, tôi biết cô ấy chính là người phụ nữ hoàn hảo dành cho mình. Từ khi ánh mắt tôi chạm đến cô ấy, cằm tôi đã run bần bật, và môi tôi bỗng khô như sa mạc.
Có lẽ bạn cũng có một mẫu người phụ nữ cho riêng cho mình. Ví dụ, bạn nghĩ một người phụ nữ với cổ chân gầy là xinh đẹp, hay cách khác, một người phụ nữ với đôi mắt to tròn vành vạnh, hoặc một người phụ nữ với những ngón tay xinh đẹp. Tôi cũng không biết nữa, nhưng những người phụ nữ dành nhiều thời gian để dùng những bữa ăn nhiều thịt thật sự cuốn hút tôi (*). Đương nhiên, tôi có mẫu người của riêng tôi. Mỗi khi ăn tại các nhà hàng, tôi luôn bị xao nhãng bởi hình dáng chiếc mũi của người phụ nữ ngồi bàn bên cạnh.
(*): Một bữa ăn của người Nhật thường không nhiều thịt, thế nên hầu hết phụ nữ Nhật thường khá mảnh mai. Ý của tác giả khi nhắc đến những người phụ nữ hay ăn thịt trong bữa ăn chắc là miêu tả về những người phụ nữ đầy đặn một chút.
Thế nhưng, không một ai có thể đại diện cho một người phụ nữ hoàn hảo được.
January 25, 2010
Chuyện cổ tích Nhật Bản: Huyết sắc lệnh của quận công Hosokawa
Vài trăm năm trước đây, tại vùng đất của dòng họ Hosokawa, có một quả phụ sống cùng con gái Kazuye. Bố của Kazuye đã bị ám sát một cách bí ẩn nửa năm trước đây. Cả Kazuye và mẹ đều căm phẫn, và thề sẽ đưa hung thủ ra trước pháp luật. Hai mẹ con dùng hết tất cả số tiền mà cả gia đình đã để dành suốt cuộc đời cho hành trình đi tìm công lý gian khổ này, cuối cùng, họ trở thành những người nghèo khó, vô gia cư, phải đến xin ở tại một ngôi đền địa phương để cầu xin sự giúp đỡ của khách thập phương. Ngày qua ngày, dù có khó khăn đến đâu, họ vẫn không ngừng nuôi hy vọng, và Kazuye thậm chí sẽ thề lấy người đàn ông nào có thể giúp cô trả thù cho cha.
Một ngày nọ, Kazuye và mẹ bị đám thanh niên địa phương trêu chọc, lăng nhục ngay giữa ngôi đền. Bỗng một chàng samurai trẻ, đẹp trai tên Okawa Jomoyemon xuất hiện. Chàng rút kiếm, trừng trị bọn côn đồ vô học, và nhanh chóng giành phần thắng tuyệt đối. Kazuye nhìn thần thái dũng mãnh của chàng trai, và nhận ra đây là người mình mong ước từ lâu để trả mối thù cho người cha đáng thương. Với sắc đẹp của mình, chẳng khó khăn để Kazuye có thể thu phục trái tim của chàng dũng sĩ.
Trong khoảng thời gian đó, một người bạn cũ của bố Kazuye thấy thương tình cho hoàn cảnh của hai mẹ con, nên đã xin cho Kazuye một chân phụ việc tại nhà của hoàng tử Hosokawa. Một lần nữa, với sắc đẹp của mình, Kazuye ngay lập tức thu hút sự chú ý của quận công (Daimio), làm những nàng hầu khác ganh ghét.
Chàng samurai Okawa, lúc này đã đắm đuối trong tình yêu với Kazuye, mặc dù trong thực tế chàng đang phục vụ cho một quận công khác, quyết định sẽ lén đến gặp Kazuye một chiều nọ tại lâu đài của dòng họ Hosokawa. Kazuye, trong lòng vẫn mang mối hận thù sâu đậm với những kẻ giết cha, tận dụng cơ hội này để kể lại câu chuyện thương tâm, và dùng những giọt nước mắt thuyết phục Okawa trả thù cho mình. Với bản tính cương trực, mạnh mẽ của một samurai, Okawa đã thề trước Kazuye anh sẽ không nghĩ đến chuyện tình yêu cho đến khi anh tìm được những kẻ thủ ác, và trả thù cho bố của Kazuye. Một nàng hầu vốn ghen tị với Kazuye đã nghe lén được câu chuyện qua vách ngăn, và nhanh chóng mách lẻn với chủ nhân.
Điều gì có thể xảy ra? Okawa, hiện đang hầu cận cho một chủ nhân khác, bị bắt gặp với một nàng hầu thân cận của hoàng tử Hosokawa trong lâu đài của dòng họ Hosokawa. Cái chết là điều không thể tránh khỏi dành cho Okawa, và Kazuye. Kazuye bảo Okawa hãy trốn vào góc tủ, nhưng điều đó chẳng có ích gì. Cả Kazuye và Okawa đều bị lôi xềnh xệch đến diện kiến quận công Hosokawa. Quận công Hosokowa, lúc này rất giận dữ, nhanh chóng ra lệnh giết chết Kazuye, nhưng Okawa đã phản kháng mạnh mẽ. Okawa nói anh chủ động đến gặp Kazuye, và nàng không có lỗi gì cả. Anh xin chấp nhận cái chết thay cho Kazuye. Bên cạnh đó, anh kể lại câu chuyện thương tâm của Kazuye, và nói rằng mục đích duy nhất nàng vẫn cố gắng sống gượng là để báo thù cho người cha đáng thương. Quận công cảm động với câu chuyện của Kazuye, quyết định thu nạp Okawa, đồng thời hứa sẽ giúp đỡ Kazuye trả thù. Những giọt nước mắt của sự biết ơn rơi từ gương mặt rắn rỏi của Okawa, và chàng đã thề sẽ hy sinh cho Hosokawa trong bất cứ tình huống nào.
Một năm nữa trôi qua, một ngày nọ, lâu đài của dòng họ Hosokawa đang đối mặt với một vụ cháy khủng khiếp. Cơn gió dữ dội càng làm ngọn lửa nổi bùng lên, gần như chỉ để những người hầu cận thoát ra ngoài mà không thể đem theo báu vật của dòng họ. Quận công Hosokawa chợt nhớ đến những sắc lệnh xưa cổ do Thiên hoàng ban tặng, và nếu mất chúng thì sẽ thật là một tai họa lớn cho cả dòng họ. Ngài nhảy lên lưng ngựa, định lao về phía lâu đài, nhưng những người hầu cận đã ngăn cản Hosokowa làm điều dại dột đó. Trở về lâu đài lúc này đồng nghĩa với cái chết.
Lúc này, Okawa nghe nói đến về chuyện này, và nghĩ rằng đây là cơ hội để chàng đền đáp những ân nghĩa quận công dành cho chàng và Kazuye. Okawa lao về phí đám cháy, lục tung gian phòng, dùng sức mạnh phi thương để mở két sắt, và tìm thấy những sắc lệnh quý giá của dòng họ Hosokawa. Nhưng cũng lúc này, ngọn lửa bao vây từ các phía, chàng nhận ra việc trốn thoát là bất khả thi. Lúc này, một ý nghĩa vụt qua đầu Okawa. Mặc dù chàng có thể chết, nhưng thân thể này có thể giữ được những tài liệu lâu hơn. Chàng dùng thanh kiếm ngắn rạch bụng, và nhét xấp tài liệu vào ổ bụng mình. Chàng ngã xuống sàn, máu chảy lênh láng như sông.
Vài ngày sau, người ta tìm thấy thi thể không còn lành lặn của Okawa trong đống tro tàn. Gương mặt chàng biến dạng khó nhận ra, nhưng sắc lệnh của dòng họ Hosokawa vẫn nằm trọn trong ổ bụng chàng. Chúng vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Kể từ đó, người ta gọi tài liệu này là "Hosokawa no chi daruma" -huyết sắc lệnh của dòng họ Hosokawa.
January 18, 2010
Chuyện cổ tích Nhật Bản: Nàng Tuyết Ginzai Daira
Nàng Tuyết Ginzai Daira
Ngày xửa ngày xưa, tận sâu trong vùng núi tại Koide, Echigo, có một chàng trai trẻ tên Gosaku. Mẹ chàng đã mất khi chàng còn nhỏ nên chàng sống với người cha già cả của mình.
Một ngày nọ, khi chỉ còn mấy ngày nữa là đến năm mới, người cha già của Gosaku đột ngột đổ bệnh nặng, thậm chí không thể ăn cả cháo mà Gosaku đã nấu. Gosaku lo lắng, và nghĩ rằng: “Cha thích ăn cá. Nếu như ông có thể ăn vài con cá thì ông có thể khỏe lại”. Nghĩ là bắt đầu thực hiện, Gosaku quyết tâm đi đến con sông tại Ginzai Daira: “Thậm chí một con thôi cũng được. Ông sẽ ăn một con và khỏe lại”.
Gokasu đi ngang qua những khu rừng được bao phủ dày đặc bởi các lớp tuyết trắng. Anh đi mãi, đi mãi, cho đến khi trời xẩm tối. Và một cơn bão tuyết bất ngờ nổi lên ngăn cản Gokasu tiếp tục cuộc hành trình của mình. “Mình không thể đi tiếp được. Có lẽ mình sẽ chết mất!”. Gokusa lê bước trong cơn gió dữ dội, tay chân anh đông cứng, và anh gần như không thở thở. Anh chợt thấy một căn nhà gỗ nhỏ xa xăm trước mặt. Anh tiến lại gần căn nhà, và
xuống sàn gỗ.
Thời gian trôi qua đi, một cơn gió lạnh người thổi qua, và Gosaku mở mắt, và lờ mờ nhận thấy một người con gái mặc kimono trắng toát tiến gần đến mình. Gokasu giật mình, nhưng dù cố gắng đến đâu, anh cũng không thể thốt ra thành lời. Anh muốn đứng dậy, nhưng dường như có hàng vạn tảng đá đeo trên người ghì chặt anh xuống.
Người phụ nữ tiến lại gần và thì thào vào gương mặt của anh. Làn da trắng, môi hồng, và mái tóc đen như nhung, cô ta mang một vẻ đẹp quyến rũ, và kỳ dị đến kinh sợ. “Ta là Nàng Tuyết. Ta định đến đây để lấy mạng nhà ngươi, nhưng ta đã đổi ý. Ngươi là một chàng trai tốt, và ta thích ngươi ở điểm đó. Tuy nhiên, ngươi không bao giờ được tiết lộ cho ai về cuộc gặp mặt ngày hôm nay của chúng ta. Nếu ngươi vi phạm lời thề, ngươi sẽ chết. Ngươi đã hiểu chưa?”. Nói xong, cô gái nhanh chóng tan biến vào cơn bão tuyết băng giá.
Gokasu sững sốt, và anh thức cả đêm trong căn nhà nhỏ. Khi ánh bình minh bắt đầu rạng sáng bầu trời, Gosaku nhanh chóng lên đường trở về nhà.
Một năm sau, người cha già của Gosaku qua đời, và lúc này, anh sống một mình. Một buổi chiều nọ, Gosaku gặp một người con gái xinh đẹp đang đi lang thang trong cơn bão tuyết. Cô ta nói rằng mình đang đi đến Nikko.
“Đi trong thời tuyết thế này thật điên rồ. Cô sẽ không bao giờ đến được Nikko đâu. Nhà tôi ở đằng kia, sao cô không trú lại một đêm, và lên đường vào sáng ngày hôm sau”.
Người con gái đồng ý theo Gosaku về nhà.
Tuy nhiên, trận bão tuyết đã kéo dài suốt ba ngày ba đêm sau đó. “Trong cơn bão tuyết thế này, đi đến Nikko là không thể. Cô nên ở đến đây cho đến mùa xuân”. Và hai người trở thành vợ chồng.
Khi mùa xuân đến, cô vợ trẻ của Gokasu bắt đầu đi làm đồng. Và dù trời có nóng bức như thế nào, làn da của cô gái trẻ vẫn trắng như tuyết. Và vài năm sau nữa, cô gái vẫn giữ nguyên vẻ tươi đẹp của tuổi thanh xuân, và chưa có dấu hiệu già đi.
Đã năm năm trôi qua, gia đình hạnh phúc của Gokasu có thêm ba đứa trẻ. Những đứa trẻ trông rất giống mẹ, làn da của chúng trắng toát, và không sạm đi dưới nắng.
Một buổi chiều nọ, khi có một trận bão tuyết dữ dội ngoài trời, cô vợ của Gokasu ngồi thêu bên đám lửa cháy bập bùng. Gokasu nhìn ra ngoài trời, và bỗng nhiên nhớ lại cái đêm kinh hoàng sáu năm trước tại Ginzai Daira.
“Có điều gì đó rất quen thuộc. Kỳ lạ quá” – Gokasu thì thầm, và lắc đầu qua lại.
Người vợ nhìn vào anh, và hỏi “Có chuyện gì quen thuộc, nói em nghe đi nào!”.
Bị những lời nói của vợ thuyết phục, Gokasu kể lại câu chuyện tại cơn bão tuyết trên đỉnh núi mà không hề suy nghĩ: “Nó xảy ra cũng lâu rồi, anh đến Ginzai Daira để bắt cá, và trên đường qua núi, anh đã gặp một Nàng Tuyết, …”
Không để cho Gokasu kết thúc câu chuyện, người vợ đứng bật dậy, giận dữ nhìn vào Gokasu, và đột ngột Gokasu nhận ra gương mặt của vợ mình chính là gương mắt của Nàng Tuyết mà anh gặp cách đây sáu năm.
“Tại sao ngươi lại tiết lộ về câu chuyện đó? Ta đã cảnh báo nhà ngươi sẽ chết nếu tiết lộ câu chuyện này cho bất kỳ ai cơ mà! Ngươi đã hứa…”
Cô vợ, bây giờ đã hiện nguyên hình là Nàng Tuyết gằn giọng với Gokasu, nhưng đâu đó ta vẫn thấy nét buồn phảng phất trên đôi mắt của nàng.
“Ta đúng là Nàng Tuyết ngươi đã gặp tại Ginzai Daira. Nếu ngươi biết giữ lời hứa, có lẽ chúng ta đã sống hạnh phúc với nhau mãi mãi. Ta phải rơi khỏi nơi đây. Nhìn gương mặt của các con đang ngủ yên giấc kia, ta không thể lấy đi cái mạng của nhà ngươi. Ta sẽ để chúng lại ở đây, và xin nhà ngươi hãy chăm sóc chúng thật tốt”.
Và cũng như sáu năm trước đây, khi những lời nói cuối cùng kết thúc, Nàng Tuyết dần dần hòa mình vào cơn gió dữ dội, và biến mất. Từ đó về sau, không ai còn thấy sự xuất hiện của nàng nữa.
Giải thích
Khi nhắc đến hình tượng nàng tuyết, hay bà chúa tuyết (Yuki Onna – Yuki là tuyết, Onna là người con gái) trong truyện cổ tích Nhật Bản, ta thường nghĩ đến những cái chết tàn khốc của những nạn nhân xấu số bị nàng giết. Tuy nhiên, tại Niigata, Nàng Tuyết (Yuko Joro) chỉ là người gây nên những trận bão tuyết dữ dội, chứ không giết người. Theo lời kể dân gian, tại một số khu vực của Niigata, khi tuyết đổi thành màu hồng, thì chứng tỏ rằng Nàng Tuyết vừa mới kết duyên với một người đàn ông địa phương.
Trong câu truyện này, nhân vật chính là một người đàn ông trẻ tên Gosaku, và câu chuyện nhấn mạnh vào tình cảm gia đình, vốn được xem trọng sâu sắc trong xã hội Nhật Bản. Người con trai vượt qua gian khổ để đánh bắt cá thay người cha già bệnh tật của mình. Nàng Tuyết xuất hiện,và thể hiệncá tính mạnh mẽ của mình trong tình yêu qua việc chủ động bắt đầu mối quan hệ với Gokasu.
Chúng ta cũng nên lưu ý đến cách xây dựng gia đình khá phổ biến tại các vùng nông thôn của Nhật Bản được thể hiện qua câu truyện này: không có nghi lễ chính thức, mà chỉ đơn thuần dựa trên tình cảm, và sự thấu hiểu lẫn nhau giữa hai người. Và cũng trong các gia đình này, vai trò của các thành viên trong gia đình là như nhau. Khi Gosaku phá vỡ lời hứa, Nàng Tuyết bỏ đi, một phần vì nàng tự tin rằng Gosaku có thể chăm sóc tốt cho những đứa con.
Trong câu truyện này, nhân vật chính là một người đàn ông trẻ tên Gosaku, và câu chuyện nhấn mạnh vào tình cảm gia đình, vốn được xem trọng sâu sắc trong xã hội Nhật Bản. Người con trai vượt qua gian khổ để đánh bắt cá thay người cha già bệnh tật của mình. Nàng Tuyết xuất hiện,và thể hiện
December 20, 2009
Chuyện cổ tích Nhật Bản: Bài hát của Okesa

Ngày xửa ngày xưa, tại thị trấn nhỏ Ogi tại đảo Sado, có một cặp vợ chồng già sống bằng thu nhập từ quán mì soba tên là Nigasa-ya. Họ không có con cái. Đã mười sáu năm rồi, họ chỉ sống với cô mèo Asa. Một thời gian sau, tuy đã làm việc hết sức chăm chỉ, hai vợ chồng vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc kinh doanh và nợ một khoản khá lớn. Hai vợ chồng nghĩ đến việc sẽ đóng cửa quán mì, và bí mật đi thật xa khỏi thị trấn.
Vào buổi sáng hai vợ chồng già định rời khỏi thị trấn, họ đã nói với cô mèo Asa: "Asa, xin hãy tha lỗi cho ông bà. Ông bà không thể đem con theo được. Cuộc hành trình sẽ rất dài và gian khổ. Ngay chính bản thân ông bà cũng không biết mình sẽ đi đâu. Nhưng con là một cô mèo thông minh, con sẽ tìm được ai đó tốt bụng chăm sóc cho con, và con sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc". Asa nhìn ông bà chủ chăm chăm, rồi như hiểu chuyện, cô mèo gật đầu buồn bã rồi lủi thủi đi ra khỏi nhà.
Tối hôm đó, hai vợ chồng đang chuẩn bị đồ cho cuộc ra đi của mình, thì họ nghe một tiếng gõ cửa. Họ giật bắn lên, vì nghĩ rằng đó có thể là một chủ nợ đi đòi tiền vào đêm khuya. Tuy nhiên, họ lại nghe một tiếng nói rất dịu dàng và nhỏ nhẹ: "Xin chào. Cháu có thể nhờ một việc được không?".
Ông lão ra mở cửa và thấy một cô gái xinh xắn.
"Bây giờ rất khuya rồi, lão có thể làm được gì cho cháu đây!"
"Cháu 16 tuổi. Cháu mới chuyển đến đây. Xin ông bà cho cháu làm việc tại quán. Cháu sẽ không cần tiền lương và sẽ không gây phiền phức gì cho ông bà"
"Nếu quán mì vẫn còn họat động thì tốt rồi, nhưng đằng này nó đã bị đóng cửa và hai ông bà đang chuẩn bị chuyển đi" - ông lão cố gắng giải thích cho cô gái, thế nhưng cô ấy vẫn kiên quyết xin được giúp.
"Cháu có 20 lạng bạc chưa dùng gì cả. Nếu có thể, xin ông bà hãy dùng để mở lại quán ăn. Cháu sẽ ở lại đây để phụ giúp ông bà".
Cô gái lấy ra một chiếc hộp và đẩy nó về phía hai vợ chồng già đang lắp bắp vì ngạc nhiên. Đầu tiên, hai vợ chồng từ chối, nhưng cô gái rất kiên quyết với lời đề nghị của mình, vì vậy họ đành phải thỏa thuận: số tiền chỉ là khoản vay của hai vợ chồng. Họ sẽ tìm cách trả lại cho cô gái khi có thể. Và do được một khoản tiền khá lớn, quán mì lại được mở cửa vào sáng hôm sau.
Okesa làm việc rất chăm chỉ tại cửa hàng. Mỗi khi không bận rộn, cô thường góp vui cho thực thách bằng giọng hát trong trẻo của mình. Đôi khi, cô còn hát những bài hát bản thân sự sáng tác. Một trong số bài hát như thế này:
Ah, Sado, Sado
Những hàng cây và bãi cỏ đang mời gọi bạn
Sado thật xinh đẹp
Hãy đến với thị trấn Sado của chúng tôi
Thực khách nhiệt liệt hưởng ứng ca khúc của Okesa. Ban đầu họ vỗ tay theo nhịp, và sau đó là đung đưa lắc lư theo giọng hát thiên thần của cô gái. Nhanh chóng sau đó, ca khúc của Sado trở thành một biểu tượng, niềm tự hào của thị trấn nhỏ Ogi.
Vì không khí nhộn nhịp và vui vẻ của quán mì, lúc nào cũng có thực khách tìm đến. Chỉ nửa năm sau, hai vợ chồng đã trả hết món nợ cho các chủ nợ khi xưa. Một năm sau, họ mở rộng quán, và thuê thêm vài người để giúp cho việc kinh doanh. Ca khúc của Okesa lúc này cũng nổi tiếng khắp cả đảo Sado.
Một buổi tối, ông lão đang ngủ thì tỉnh giấc bởi một tiếng mèo kêu. Ông quay sang thì thấy cô mèo Asa đang ngồi kế mình: "Ah, Asa, con đi đâu cả năm nay vậy. Thật tốt khi con khỏe mạnh và đã quay trở lại với chúng ta". Ông vươn người tới Asa, nhưng bỗng nhiên hình ảnh của Asa mờ dần, và biến mất như làn khói mỏng vào không khí. Ông tỉnh dậy, và lay vợ, kể cho bà lão nghe về giấc mơ kỳ lạ của mình. Cả hai thức trắng cả đêm, và nói về ngày xưa, họ nhớ cô mèo Asa da diết.
Sáng hôm sau, mọi vật im ắng lạ thường, và cặp vợ chồng bắt đầu lo lắng. Bình thường cô gái Okesa luôn là người dậy trước tiên, nhưng hôm nay thì chẳng thấy cô ấy đâu cả.
"Có lẽ con bé bị ốm"
Hai vợ chồng đến phòng của Okesa, gọi cửa liên tục, nhưng vẫn không nghe trả lời. Họ bước vào phòng của Okesa, và sững sờ nhìn thấy, xác của cô mèo Asa ngay tại giường của Okesa.
"Ôi Asa, con chính là Okesa sao?"
Hai vợ chồng khóc rất nhiều sau đó.
Nhiều năm sau đó, mặc dù Okesa không còn nữa, nhưng bài ca và điệu múa của cô vẫn được truyền tụng khắp nơi. Người ta gọi đó là Okesa-bushi. Và ngày nay, những người dân tại đảo Sado vẫn tiếp tục nhảy múa theo điệu múa này của Okesa.
Giải thích
Hình tượng con mèo đóng vai trò quan trọng trong truyền thuyết, truyện cổ tích của nhiều nền văn hóa khác nhau. Mèo có thể đem lại may mắn, lộc tài, phát thọ, công việc đồng áng thuận lợi. (Trung Quốc, Nhật Bản). Nhưng trong một số nền văn hóa khác, nó biểu trưng cho niềm tà ác, dịch bệnh và cái chết (phương Tây).
Trong văn hóa Nhật Bản, con mèo đem đến sự tốt lành. Bạn có thể thấy nhiều cửa hàng buôn bán có để một mô hình chú mèo máy vẫy tay mời gọi khách mua hàng (tiếng Nhật gọi là makeni-neko). Tuy nhiên, cũng theo người Nhật Bản, nếu một chú mèo bị giết chết, nó sẽ trở thành một quái vật (bakeneko). Người ta tin rằng, nếu bạn tiết lộ bí mất một chú mèo kể cho bạn, chú mèo đó sẽ cắn đầu bạn đến chết trong lúc bạn đang ngủ.
Trong câu chuyện này, mèo đem lại niềm vui và hạnh phúc cho chủ nhà với lời ca và điệu múa của mình.Cô gái trẻ Okesa (vốn do mèo biến thành) nổi tiếng về sự chăm chỉ, và ân nghĩa trung thành với chủ nhân. Câu chuyện Hokuetsu Seppu của tác giả Suzuki Bokushi cũng như điệu múa nổi tiếng "Sado Okesa" tại đảo Sado đều dựa trên cảm hứng lấy từ câu chuyện cổ tích này.
Có một lối chơi chữ khá thú vị với tên của nhân vật chính: tên của cô gái là Okesa, còn cô mèo là Asa. Asa có nghĩa là "buổi sáng" còn kesa có nghĩa là "sáng nay", còn "O" là tiếp đầu ngữ đêm vào từ nghĩ khi bạn muốn bày tỏ sự trân trọng đối với vật được nhắc đến. Tên gọi hàm ý điều tốt lành trong câu truyện. Một vài ví dụ trong ngôn ngữ Nhật Bản có thể kể đến: Ohashi (Đôi đũa), hay Ohanami (Ngắm hoa), Osake (Uống rượu Sake), ... Đối với người Nhật thì việc dùng đũa, ngắm hoa, hay uống sake đều là một yếu tố văn hóa duy mỹ (rất đẹp), được nâng lên tầm nghệ thuật. Thế nhưng bạn đừng lầm lẫn với các trường hợp khác, vẫn có khá nhiều từ ngữ bắt đầu bởi "O" nhưng nó không mang tính chất kính trọng như trên.
Giới thiệu nguyên tác
Đây là bản dịch tiếng Việt những câu chuyện cổ tích/thần thọai của tỉnh Niigata tại Nhật Bản. Các truyện này được lấy từ bài luận văn "Phụ nữ và đàn ông trong truyện cổ tích Niigata" của tác giả Joy Williams. Trong mỗi bản dịch, sẽ gồm câu chuyện, và một phần giải thích các yếu tố văn hóa, lịch sử, con người có liên quan (nằm ở cuối bài viết).
Subscribe to:
Posts (Atom)


